Thuốc trầm cảm: Hiểu đúng để dùng hiệu quả, an toàn

Với người bị bệnh trầm cảm, nếu hiểu và dùng đúng thuốc sẽ có hiệu quả, bệnh sẽ ổn định trong thời gian dài. Trong thời gian ổn định đó, người trầm cảm sẽ có thể học tập làm việc như người bình thường.

Trầm cảm và thuốc trầm cảm

Muốn suy nghĩ hoạt động cần có hàng trăm, hàng nghìn tế bào thần kinh hợp tác với nhau bằng cách truyền thông tin từ tế bào thần kinh này sang tế bào thần kinh kế tiếp khác. Ở giữa đuôi của tế bào thần kinh này và đầu của tế bào thần kinh kế tiếp kia, có một khoảng trống gọi là synap (khớp thần kinh).

Tế bào thần kinh muốn liên lạc với tế bào kế tiếp, phải tiết ra các chất dẫn truyền thần kinh (serotonin, dopamin, noreinephrin) vào synap đạt đến ngưỡng cần thiết. Cứ thế, hàng chuỗi tế bào sẽ tiết ra chất dẫn truyền thần kinh, tạo thành một đường dẫn truyền thần kinh thông suốt.

Tuy nhiên, các chất dẫn truyền thần kinh có giai đoạn bị sụt giảm do bị phân hủy hay do quá trình thu hồi về vị trí xuất phát đã sinh ra nó (tái nắm bắt). Khi các chất dẫn truyền trong synap bị giảm sút quá mức, sẽ tạo ra trạng thái ức chế, giảm khí sắc, giảm năng lượng, giảm hoạt động gọi là trầm cảm.

Thuốc trầm cảm ức chế sự phân hủy, ức chế sự thu hồi các chất dẫn truyền thần kinh về vị trí xuất phát, do đó làm cho các chất này không bị sụt giảm, phục hồi các chất này ở ngưỡng cần thiết trong synap nên chống lại hiện tượng trầm cảm.

Làm sao dùng thuốc có hiệu quả an toàn?

Phải khám chuyên khoa tâm thần trước khi dùng thuốc:

Trầm cảm có biểu hiện về tinh thần là buồn chán, bồn chồn, lo lắng, vô cảm, suy nghĩ tiêu cực, không tập trung, hoang tưởng; về thể chất là rối loạn giấc ngủ, chậm chạp, rối loạn ăn uống, suy giảm hoạt động, suy giảm tình dục. Có thể nhầm trạng thái này là bệnh suy nhược, rối loạn thần kinh, rồi dùng các thuốc an thần, bổi bổ, kích thích thần kinh (seduxen, vitamin, aminoacid, pyracetam, caffein). Như thế là dùng không đúng bệnh.

Trầm cảm có 3 dạng (thể) lớn: nội sinh, tâm sinh, triệu chứng. Mỗi dạng lớn còn chia ra các dạng (thể) nhỏ. Ví dụ: trầm cảm nội sinh còn còn chia ra các dạng (sững sờ, kích động, nghi bệnh, hoang tưởng, ẩn, ám ảnh, trì trệ, đơn cực, lưỡng cực, loạn tính khí…). Mỗi loại thuốc trầm cảm chỉ có hiệu lực trên một hoặc một số dạng nhất định.

Mỗi dạng trầm cảm có triệu chứng đặc hiệu nhưng cũng có các triệu khác trùng với dạng khác. Người bệnh thậm chí thầy thuốc không phải chuyên khoa tâm thần có thể nhầm lẫn giữa các dạng này. Nhầm lẫn dạng sẽ dẫn đến việc dùng không đúng thuốc.

tu van benh tram cam

Người bệnh trầm cảm không được mặc cảm về bệnh mà nhất thiết phải khám tại huyên khoa tâm thần

Người bệnh trầm cảm và người nhà thường có tâm lý mặc cảm, không đến khám tại chuyên khoa tâm thần mà tự mua thuốc dùng hay chỉ khám tại các cơ sở y tế không chuyên khoa. Để đảm bảo chẩn đoán đúng bệnh, đúng dạng, dùng đúng thuốc, khi có các biểu biện bất thường về tâm thần, nhất thiết phải khám tại chuyên khoa tâm thần (thường có ở bệnh viện tuyến tỉnh thành phố hay các bệnh viện, viện chuyên khoa tâm thần trung ương).

Khi bị bệnh nhất thiết phải dùng thuốc:

Trong trường hợp trầm cảm nhẹ, người bệnh vẫn còn nhận thức được, vẫn biết mình còn nghị lực để vượt qua thì có thể dùng liệu pháp “tự thân vận động”. Trong trường hợp trầm cảm mức vừa nặng, cần chọn thầy thuốc giỏi, chọn phương thức, thời gian thích hợp để thực hiện tâm lý liệu pháp.

Tuy nhiên, liệu pháp này chỉ có thể thực hiện được khi người bệnh còn nhận thức, có thời gian, biết hợp tác với thầy thuốc, còn khi người bệnh đã quá mệt mỏi không nhớ ra rõ ràng mọi việc, sẽ không thực hiện được, nếu nặng không còn đủ nhận thức thì phải dùng thuốc phục hồi tương đối đủ nhận thức mới thực hiện tâm lý liệu pháp được.

Trầm cảm là do thiếu hụt các chất dẫn truyền thần kinh trong synap. Dùng thuốc mới giảm được sự thiếu hụt đó thì mới bị đẩy lùi được bệnh. Các liệu pháp tự thân vận động (dùng ý chí nghị lực thay đổi cuộc sống), liệu pháp tâm lý… rất quan trọng, cần được phối hợp với thuốc… nhưng không thể thay thế thuốc.

Không tự ý ngừng dùng thuốc:

Thuốc trầm cảm ức chế sự phân hủy, ức chế sự thu hồi chất dẫn truyền thần kinh về vị trí xuất phát, chỉ phục hồi các chất này về ở ngưỡng như cũ mà không kích thích cơ thể sản xuất làm tăng các chất này lên quá ngưỡng cần thiết. Vì vậy, thuốc chỉ đưa người bệnh từ trạng thái trầm cảm về người có trạng thái bình thường chứ không biến người trầm cảm thành một người khác.

Từ đó, có thể coi là thuốc trầm cảm không gây hại thần kinh. Khi dùng, thuốc phát huy hiệu lực; khi ngừng dùng sẽ hết hiệu lực, không tích lũy, không gây nghiện. Dùng kéo dài, cơ thể quen thuốc, ngừng đột ngột sẽ bị cảm giác khó chịu, nếu giảm dần liều trước khi ngừng dùng sẽ không bị hiện tượng này.

Nhiều người sợ bị độc, sợ bị nghiện nên không muốn dùng hay khi mới đỡ triệu chứng là tự ý ngừng dùng. Tự ý ngừng dùng sẽ làm cho bệnh tái phát, nặng hơn. Cũng có người cho hóa dược độc, chuyển sang dùng thảo dược. Chưa có tài liệu nào cho biết thảo dược chữa được trầm cảm. Chuyển sang dùng thảo dược cũng hại như tự ý ngừng dùng.

Tránh phối hợp thuốc trầm cảm với các thuốc ức chế thần kinh:

Có người trầm cảm bị bồn chồn lo lắng, có kích động, khi mới dùng thuốc bị căng thẳng mất ngủ, khắc phục bằng cách dùng các thuốc trầm cảm 3 vòng có tính an thần như amitriphtylin, doxepin, clomipramin. Có người trầm cảm bị trạng thái hưng cảm, cần phải dùng thuốc đặc hiệu như muối lithium.

Trong các trường hợp này, không tự ý dùng các thuốc gây ức chế thần kinh trung ương như: benzodiazepin, phenobacbital… vì các thuốc này có tác dụng ngược, làm mất hiệu lực thuốc trầm cảm. Chỉ một số trường hợp đặc biệt, thầy thuốc có thể cho phối hợp với seduxen nhưng chỉ với liều vừa đủ, chỉ dùng lúc mới dùng thuốc trầm cảm.

kham benh tram cam

Đo điện não EEG

Tránh dùng trùng lặp các thuốc trầm cảm:

Một số thuốc, nhóm thuốc trầm cảm làm tăng có chọn lọc một chất dẫn truyền thần kinh, tuy nhiên tính chọn lọc này chỉ là tương đối mà nó vẫn có thể làm tăng một số chất dẫn truyền thần kinh khác. Nếu dùng cùng lúc hai thuốc cùng nhóm hay khác nhóm sẽ làm cho chúng phối hợp cùng chiều làm tăng chất dẫn truyền thần kinh lên quá mức cần thiết, gây độc.

Khi muốn chuyển dùng từ nhóm thuốc này sang nhóm thuốc khác, phải nghỉ dùng thuốc cũ đủ 14 ngày. Ví dụ: khi dùng nhóm thuốc IMAO muốn chuyển sang dùng nhóm thuốc SSRI thì phải nghỉ dùng IMAO 14 ngày hay ngược lại.

Làm giảm bớt hiện tượng kháng cholinergic:

Các thuốc trầm cảm đều tính kháng cholinergic, biểu hiện rõ hơn cả là nhóm trầm cảm 3 vòng (TCA) với các biểu hiện khô miệng, buồn nôn, táo bón, nhịp tim nhanh, hạ hay tăng huyết áp, tăng tiết mồ hôi, phát ban, nhức đầu, chóng mặt, lú lẫn, nhìn mờ, tăng áp lực nội sọ, nhạy cảm với ánh sáng, thay đổi glucose huyết, gây chứng vú to, phóng tinh hoàn ở nam, nở vú, tăng tiết sữa ở nữ.

Khắc phục: chỉ cho uống một liều duy nhất vào buổi tối thì các triệu chứng này hầu như không xảy ra. Ở người trung niên, người già triệu chứng này hay xảy ra hơn, cần giảm liều. Tránh dùng cùng lúc với các thuốc thường gây ra các triệu chứng trên (atropin, ephedrin).

Tránh độc cho gan, thận:

Thuốc trầm cảm chuyển hóa hầu hết tại gan, thải trừ qua thận. Người có chức năng gan thận suy giảm khi dùng thuốc sẽ xuất hiện các triệu chứng như quá liều. Người già thường bị một số nhạy cảm quá mức như: hạ hạ huyết áp tư thế đứng, gây sốc, táo bón lâu ngày, gây liệt ruột. Với các đối tựợng này, phải giảm liều đến mức thấp nhất mà vẫn duy trì hiệu quả chữa bệnh, có khi chỉ còn bằng 50% liều người trung niên khỏe mạnh.

Tránh hại cho thai, trẻ bú mẹ:

Chưa có bằng chứng trên người về tác hại của thuốc trầm cảm 3 vòng với thai. Phần lớn tác giả cho rằng các thuốc SSRI như: fluoxetin, paroxetin, sertralin không có mối liên quan gì với dị tật dính liền khớp sọ, thoát vị rốn, dị tật bẩm sinh nói chung ở tim.

Tuy nhiên, vì thuốc trầm cảm có một số tác dụng không mong muốn nên không dùng cho người có thai. Trường hợp đặc biệt người mang thai mà bị trầm cảm, nếu cần vẫn có thể cho dùng nhưng có chọn lọc.Với người cho con bú: thuốc có thể tiết vào sữa gây hại, không nên dùng cho người cho con bú.

Tránh gây hạ ngưỡng động kinh:

Thuốc trầm cảm làm hạ ngưỡng động kinh, làm cho cho người động kinh dễ lên cơn động kinh, nhất là nhóm trầm cảm 3 vòng. Phải ngừng ngay thuốc khi xuất hiện cơn co giật.

Theo DS.CKII Bùi Văn Uy – Sức khỏeĐời sống

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

chuoi nguon
Bán chuối hột rừng

Chuối hột rừng Một trong những loại thực phẩm – dược...

bo khop hyalob
Viên bổ khớp Hyalob

Sụn khớp của cơ thể con người bị mòn tự nhiên...

bang dinh duong chum ngay
Chùm ngây cây rau nhiều dinh dưỡng nhất

Gần đây cây chùm ngây được nhiều người biết đến như...

Vitamin tong hop Century A-Z
Vitamin tổng hợp Century A thru Z

Uống bổ sung vitamin tổng hợp như Century A thru Z...

thit kho dong pha
Cách làm thịt kho Đông Pha
ca chinh nuong
Cá chình ‘ăn là ghiền’
banh canh ca loc
Hương dẫn cách nấu món bánh canh cá lóc hấp dẫn
banh trung thu heo con
Làm bánh Trung thu heo con siêu dễ thương